Những cục máu đông này thường phát triển ở chi dưới, đùi, chậu nhưng cũng có thể xảy ra tại cánh tay. Hiểu biết về thuyên tắc tĩnh mạch sâu rất quan trọng vì nó có thể diễn ra với bất kỳ người nào và có thể gây ra bệnh lý nghiêm trọng; tàn tật và vài trường hợp có thể gây tử vong. Tuy nhiên, thuyên tắc tĩnh mạch sâu có thể ngăn ngừa và điều trị được nếu được chẩn đoán sớm.
Ai có yếu tố nguy cơ thuyên tắc mạch?
Hầu như bất kỳ người nào cũng có thể bị thuyên tắc mạch. Tuy nhiên, những yếu tố nhất định có thể gia tăng nguy cơ phát triển tình trạng này. Nguy cơ gia tăng hơn cả đối với những người có hơn một yếu tố nguy cơ cùng thời điểm đó.
Liệt kê một số nhân tố nguy cơ gia tăng sự phát triển thuyên tắc mạch:
Tổn thương mạch, gây ra bởi gãy xương, tổn thương cơ nghiêm trọng hay phẫu thuật (đặc biệt liên quan đến bụng, chậu, hông hay chân).
Dòng máu chảy chậm, thường gây ra do nằm cố định trên giường (do bệnh lý y khoa hay sau phẫu thuật), giới hạn cử động (bó bột chân để chữa lành xương gãy), ngồi lâu nhất là là bắt chéo chân hoặc bệnh nhân bị liệt.
Gia nâng cao estrogen, gây ra do dùng viên thuốc ngừa thai, điều trị hormon thay thế thỉnh thoảng dùng sau mãn kinh, mang thai, cho tới 6 tuần sau sinh.
Một số bệnh lý y khoa mạn tính nhất định, như bệnh tim, phổi, ung thư và quá trình điều trị. Bệnh viêm nhiễm đại tràng (bệnh Crohn hay viêm loét đại tràng)... cũng có thể gây tình trạng thuyên tắc tĩnh mạch sâu.
Ngoài ra, các yếu tố nguy cơ khác bao gồm: bệnh sử gia đình có thuyên tắc mạch; tuổi (nguy cơ gia tăng lúc tuổi tăng), béo phì, thuốc lá, rối loạn đông máu di truyền... Có thể nghi ngờ lúc người có thuyên tắc mạch tái phát không thể tìm ra một nguyên do nhất là nào (như là phẫu thuật sắp chỉ mất khoảng đó). Hoặc thuyên tắc mạch phát triển trong mạch máu tại vị trí bất thường, như là mạch máu trong gan, thận, não.
Dấu hiệu tiếp nhân biết
Khoảng 1 nửa số người bị thuyên tắc tĩnh mạch sâu không có triệu chứng gì cả. Đối với những người có triệu chứng, những khiếu nại sau thường hay gặp và có thể xảy ra ở phần cơ thể bị ảnh hưởng: sưng phồng, đau, căng cơ, đỏ da, ví dụ có bất kỳ triệu chứng nào kể trên, nên đi khám bác sĩ càng sớm càng tốt.
Triệu chứng của thuyên tắc phổi (cục máu đông ở phổi) có biểu hiện như sau: Với thuyên tắc tĩnh mạch sâu, một mảnh của cục máu đông có thể vỡ ra và di chuyển đến phổi. Cục máu đông trong phổi được gọi là thuyên tắc phổi. Thuyên tắc phổi rất nghiêm trọng và có thể gây tử vong. Triệu chứng của thuyên tắc phổi bao gồm: khó thở, nhịp tim nhanh hơn bình thường, đau ngực hay khó chịu, mà trầm trọng hơn lúc thở sâu hay ho. Ho ra máu, huyết áp tụt thấp, nhức đầu nhẹ. Nếu có bất kỳ triệu chứng nào kể trên, cần tìm sự giúp đỡ vào y tế ngay lập tức.
Biến chứng có thể xảy ra
Nếu phần máu đông bị vỡ, nó có thể di chuyển qua dòng máu tới phổi và gây ra thuyên tắc phổi, có thể gây tử vong. Thêm nữa, gần 1/3 người bị thuyên tắc mạch sẽ có biến chứng trong khoảng thời gian dài (hội chứng sau huyết khối) như là sưng, đau, tái màu, phập phồng ở phần cơ thể bị ảnh hưởng. Trong vài trường hợp, triệu chứng có thể trầm trọng mà bệnh nhân có thể bị tàn tật. Đối với vài người, thuyên tắc mạch có thể phát triển thành mạn tính, khoảng 30% người có thuyên tắc mạch là nguy cơ cho giai đoạn khác.
Thuyên tắc tĩnh mạch sâu có thể theo dòng máu đến phổi gây tắc động mạch phổi gọi là thuyên tắc phổi. Đây là một bệnh lý nặng nề, có thể dẫn tới tử vong đột ngột. Khoảng 80% thuyên tắc tĩnh mạch sâu không có triệu chứng cho tới khi diễn ra biến chứng nặng là thuyên tắc phổi. Nếu không gặp biến chứng thuyên tắc phổi thì sẽ có đến 20-50% bệnh nhân sau này bị hội chứng hậu huyết khối với biểu hiện loét, đau nhức và giới hạn vận động chi dưới.
Về chẩn đoán và điều trị
Chẩn đoán và điều trị sớm thuyên tắc tĩnh mạch sâu làm gia tăng tỷ lệ sống còn. Trước đây, chụp tĩnh mạch cản quang được xem là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán thuyên tắc tĩnh mạch sâu nhưng ngày nay kỹ thuật này đã được thay thế bằng các kỹ thuật không hoặc ít xâm lấn hơn.
Điều trị thuyên tắc tĩnh mạch sâu chính yếu là thuốc dùng để ngăn ngừa và điều trị như chống đông là thuốc thông thường nhất được sử dụng.
Sử dụng loại tất nhất là nhằm tránh tổn thương phần mềm, bộ phận ngừa và giảm sưng, đau, lở loét ở chân. Bệnh nhân sử dụng loại tất này với thời gian hàng năm hoặc nhiều tháng, sau khi bị thuyên tắc tĩnh mạch sâu, hằng ngày phải đeo tất từ lúc sáng sớm thức dậy cho đến lúc đi ngủ buổi tối.
Kê cao chân lúc nằm ngủ: Khi ngủ dùng gối kê bàn chân và cẳng chân hơi cao hơn bắp chân, cẳng chân cao hơn đùi để giảm áp lực lên tĩnh mạch chân.
Điều trị thuyên tắc phổi là điều trị cấp cứu tại bệnh viện là nhu yếu đối với thuyên tắc phổi. Trong trường hợp nghiêm trọng, đe dọa cuộc sống, có thuốc có thể làm hòa tan cục máu đông (thrombolytics) và thuốc ngăn ngừa những cục máu đông khác thành lập (chống đông). Phẫu thuật là thiết yếu đối với bệnh nhân có nguy cơ bị trường hợp thuyên tắc phổi khác.
Thuyên tắc mạch có ngăn ngừa được không? Có thể thực hiện để giúp ngăn ngừa thuyên tắc mạch bằng cách đi xung quanh càng sớm càng rất tốt sau lúc cố định trên giường như sau mổ, bệnh hay chấn thương. Khi ngồi lâu chỉ cần khoảng dài, như là đi du lịch trong hơn 4 giờ cần đứng dậy và đi bộ xung quanh mỗi 2-3 giờ. Tập thể dục cho chân trong khi ngồi bằng cách nâng và hạ thấp gót trong lúc giữ ngón chân trên sàn, căng và thả lỏng cơ chân. Mặc quần áo vừa. Uống nhiều nước, tránh uống rượu và cà phê. Báo với bác sĩ vào thuốc để ngừa hay điều trị thuyên tắc mạch. Tập thể dục đều đặn, giữ cân nặng và không hút thuốc cũng là biện pháp bộ phận ngừa hiệu quả.
BS. Mỹ Thanh
0 comments:
Post a Comment